Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và thực trạng rối loạn đông máu do dùng thuốc chống đông kháng vitamin k tại khoa cấp cứu Bệnh viện Tim Hà Nội

Nguyễn Văn Thực, Trần Thanh Hoa, Đinh Hải Nam, Nguyễn Văn Quý, Vũ Đình Hưng, Chu Thị Hằng

##plugins.themes.bootstrap3.article.main##

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Thuốc kháng đông đường uống kháng vitamin K được dùng trên lâm sàng ở nước ta chủ yếu là acenocoumarol với biệt dược Sintrom và gần đây là warfarin với biệt dược Coumadin. Việc điều trị chống đông bằng thuốc kháng vitamin K gặp phải hai trở ngại chính đó là khoảng điều trị hẹp và hiệu quả của thuốc thay đổi bởi nhiều yếu tố. Mục tiêu: “Thực trạng rối loạn đông máu trong điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K. Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến mục tiêu điều trị chống đông”. Phương pháp nghiên cứu: phân tích cắt ngang, hồi cứu, mô tả thực trạng dùng thuốc và yếu tố ảnh hưởng của người bệnh được chẩn đoán rối loạn đông máu vào khoa cấp cứu tại Bệnh viện Tim Hà Nội từ 4/2020 đến tháng 8/2021. Kết quả: Có 675 người bệnh vào viện với tình trạng rối loạn đông máu. Tuổi trung bình là 60,17±10,13 tuổi nhỏ nhất là 30, tuổi lớn nhất là 90; có 63 người bệnh chiếm 9,42% cần vào viện điều trị nội trú; Có 108 người bệnh chiếm 16% có chảy máu và 18 người bệnh chiếm 2.7 % có huyết khối tắc mạch hoặc kẹt van. Kết luận: Rối loạn đông máu trong điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K là tình trạng thường xuyên gặp tại khoa cấp cứu. Tuy nhiên, tỉ lệ biến chứng không cao. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới mục tiêu điều trị của người bệnh và việc dùng thuốc là 1 yếu tố khá thường gặp.

##plugins.themes.bootstrap3.article.details##

Tài liệu tham khảo

1. Koertke H, Zittermann A, Tenderich G, et al (2007), “Low-dose oral anticoagulation in patients with mechanical heart valve prostheses: final report from the early self-management anticoagulation trial II”, Eur Heart J, 20, pp. 2479-2484.
2. Koertke H, Korfer R (2001), “INR self management after mechanical heart valve replacement: is an early start advantageous”, Ann Thorac Surg, 72, pp. 44-48.
3. Cannegieter S.C, Rosendaal F.R, Wintzen, et al (1995), “Optimal oral anticoagulant therapy in patients with mechanical heart valves”, N Engl J Med, 333(1), pp. 11-17.
4. Wolkanin Bartnik J, Zielinski T, Pogorzelska H, et al (2005), “Thromboembolic and haemorrhagic complications in patients treated with anticoagulants after artificial heart valve replacement. Risk factors dependent on quality of anticoagulant treatment”, Pol Arch Med Wewn, 114(1), pp. 673-680
5. Phạm Gia Trung (2013), “Đánh giá thực trạng điều trị bằng thuốc chống đông kháng vitamin K ở bệnh nhân sau thay van tim cơ học tại Bệnh viện Tim Hà Nội”. Luận văn Thạc sĩ.
6. Đỗ Quốc Hùng và cộng sự (2011), “So sánh việc sử dụng thuốc chống đông acenocoumarol và warfarin ở bệnh nhân thay van tim nhân tạo cơ học”, Y học Việt Nam - Năm 2011.
7. Wolkanin Bartnik J, Zielinski T, Pogorzelska H, et al (2005), “Thromboembolic and haemorrhagic complications in patients treated with anticoagulants after artificial heart valve replacement. Risk factors dependent on quality of anticoagulant treatment”, Pol Arch Med Wewn, 114(1), pp. 673-680.
8. Raja Parver Akhtar, Abdul Rehman Abid, Hasnain Zafar, et al (2009), “Anticoagulation in patients following prosthetic heart valve replacement”, Ann Thorac Cardiovasc Surg Vol. 15, No.1, pp. 10-17
9. Kakkar N, Kaur R, Mary Jonh (2005), “Outpatient Oral Anticoagulant Management-An Audit of 82 patients”, JAPI, Vol. 53, pp. 847-852.
10. Koertke H, Zittermann A, Tenderich G, et al (2007), “Low-dose oral anticoagulation in patients with mechanical heart valve prostheses: final report from the early self-management anticoagulation trial II”, Eur Heart J, 20, pp. 2479-2484.
11. Van Nooten G.J, Caes F, Francoi K, et al (2012), “Twenty years´ single-center experience with mechanical heart valves: a critical review of anticoagulation policy”, J Heart Valve Dis, 01, pp. 88-98.
12. Herijgers P, Verhamme P (2007), “Improving the quality of anticoagulant therapy in patients with mechanical heart valves: What are we waiting for?”, Eur Heart J, 28(20), pp. 2424-2426.
13. Lengyel M (2004), “Warfarin or acenocoumarol is better in the anticoagulant treatment of chronic atrial fibrillation?”, Orv Hetil, 124(52), pp. 2619-2621.
14. Hoàng Quốc Toàn, Ngô Vi Hải, Ngô Tuấn Anh và cộng sự (2010), “Đánh giá kết quả phẫu thuật thay van tim nhân tạo tại viện TWQĐ 108 - Biến chứng và các yếu tố liên quan tới việc sử dụng thuốc chống đông”, Y học Việt Nam, tập 375, tr. 106-116.
15. Cannegieter S.C, Rosendaal F.R, Wintzen, et al (1995), “Optimal oral anticoagulant therapy in patients with mechanical heart valves”, N Engl J Med, 333(1), pp. 11-17.
16. Xin Min Zhou, Wei Zhuang, Jian Gou Hu, at al (2005), “Low-Dose Anticoagulation in Chinese Patients with Mechanical Heart Valves”, Asian Cardiovasc Thorac Ann, 13, pp. 341-344.
17. Katsuhiko Matsuyama, Masahiko, Matsumoto, et al (2002), “Anticoagulant therapy in Japanese patients with mechanical mitral valves”, Circ J, 66, pp. 668-670.
18. Zhang K, Young C, Berger J (2006), “Administrative claims analysis of the relationship between warfarin use and risk of hemorrhage including drug-drug and drug-disease interactions”, J Manag Care Pharm, 12(8), pp. 640-648.
19. Michelli C. de Assis, Eneida R. Rabelo, Christiane W. Ávila, et al (2009), “Improved Oral Anticoagulation After a Dietary Vitamin K-Guided Strategy: A Randomized Controlled Trial”, Circulation, 120, pp. 1115-112