Đánh giá kết quả sớm của phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính tại Bệnh viện Tim Hà Nội

Hoàng Văn

##plugins.themes.bootstrap3.article.main##

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Bệnh động mạch chi dưới mạn tính, phần lớn do nguyên nhân xơ vữa mạch máu, ngày càng gia tăng trong những năm gần đây. Hiện nay can thiệp nội mạch đang chiếm nhiều ưu thế so với phẫu thuật trong điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính. Theo phân loại TASC II, điều trị ngoại khoa được ưu tiên áp dụng cho những bệnh nhân có tổn thương phức tạp TASC C, D nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy can thiệp nội mạch đã có kết quả tốt đối với các tổn thương này.


Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá kết quả sớm của phương pháp can thiệp nội mạch trong điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính


Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Từ 01/01/2021 đến 31/10/2021, chúng tôi thống kê, mô tả 38 ca can thiệp nội mạch bệnh động mạch chi dưới tại khoa Tim mạch can thiệp, Bệnh viện Tim Hà Nội. Tất cả bệnh nhân được đánh giá lâm sàng, chỉ số cổ chân - cánh tay và đặc điểm tổn thương động mạch trước và sau can thiệp, để đánh giá hiệu quả của can thiệp nội mạch.


Kết quả: Phần lớn các tổn thương là loại phức tạp thuộc TASC II C và D (78,9%). Động mạch tổn thương có thể đơn thuần ở tầng chủ chậu (21,1%), tầng đùi khoeo (21,1%), tầng dưới gối (21,1%), hoặc nằm phối hợp ở tầng chủ chậu – đùi khoeo (10,5%), phối hợp tầng đùi khoeo – dưới gối (15,8%), hoặc cả 3 tầng (10,5%). Chỉ số cổ chân – cánh tay trung bình trước và sau can thiệp lần lượt là 0,57 và 0,83 (p < 0.01). Thành công về mặt kỹ thuật là 36 ca (94,7%).Có 17 ca (44,7%) chỉ nong bóng đơn thuần, có 21 ca (55,3%) được nong bóng và đặt giá đỡ nội mạch (stent). Các biến chứng sau thủ thuật gồm huyết khối gây tắc stent (2,6%), giả phình tại vị trí chọc mạch (2,6%)


Kết luận: Can thiệp nội mạch là phương pháp an toàn, hiệu quả, ít xâm lấn trong điều trị bệnh động mạch chi dưới mạn tính

##plugins.themes.bootstrap3.article.details##

Tài liệu tham khảo

1. Selvin, E. and T.P. Erlinger, Prevalence of and risk factors for peripheral arterial disease in the United States: results from the National Health and Nutrition Examination Survey, 1999-2000. Circulation, 2004. 110(6): p. 738-43.
2. Nguyen Lan Viet, Research on disease patterns of in-patients at the Vietnam Heart Institute during 2003-2007. Journal of Vietnamese Cardiology, 2010. 52: p. 11-17.
3. Vietnam National Heart Association, 2010 Recommendations on cardiovascular and metabolic diseases. Ho Chi Minh City Medical Publishing Company, 2010.
4. Gerhard-Herman, M.D., et al., 2016 AHA/ACC Guideline on the Management of Patients With Lower Extremity Peripheral Artery Disease: Executive Summary: A Report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines. Circulation, 2017. 135(12): p. e686-e725.
5. Dinh Huynh Linh, P.M.H., Nguyen Ngoc Quang, Nguyen Tuan Hai, Nguyen Anh Quan, Nguyen Thi Mai Huong, Dinh Thi Thu Huong, Short-term outcomes of endovascular therapy for chronic peripheral artery diseases. Journal of Vietnamese Cardiology, 2016. 75+76: p. 123-130.
6. Nguyen Duy Tan, T.Q.T., Outcomes of peripheral vascular interventions in patients with aortoiliac and lower extremity artery disease. vietnam medical journal, 2021. 498(n02 - January- 2021): p. 198-202.
7. L'Italien, G.J., et al., Comparative early and late cardiac morbidity among patients requiring different vascular surgery procedures. Journal of Vascular Surgery, 1995. 21(6): p. 935-944.
8. Conrad, M.F., et al., Intermediate results of percutaneous endovascular therapy of femoropopliteal occlusive disease: a contemporary series. J Vasc Surg, 2006. 44(4): p. 762-9.
9. Kudo, T., F.A. Chandra, and S.S. Ahn, The effectiveness of percutaneous transluminal angioplasty for the treatment of critical limb ischemia: a 10-year experience. J Vasc Surg, 2005. 41(3): p. 423-35; discussion 435.