Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam
https://vjcts.vn/index.php/vjcts
<p><em>Tạp chí phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam (VJCTS) được thành lập vào năm 2012 để xuất bản các nghiên cứu trong nước và quốc tế về các lĩnh vực phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực và can thiệp tim mạch. Kể từ đó, Tạp chí đã phát triển về chất lượng, quy mô, phạm vi và hiện bao gồm nhiều loại nghiên cứu học thuật. Với sự mở rộng nhanh chóng của lĩnh vực phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực. Năm 2021 Tạp chí được 1.0 điểm trong danh mục tạp chí chuyên ngành y học của hội đồng Giáo sư nhà nước.</em></p> <p><em>VJCTS ra mắt phiên bản điện tử từ năm 2021. Tạp chí đăng tải 4 số/năm vào tháng 1, tháng 4, tháng 7 và tháng 10. Là một ấn phẩm truy cập mở hoàn toàn, Tạp chí sẽ cung cấp tối đa các bài báo được xuất bản, giúp mọi người có thể đọc, nghiên cứu và chia sẻ.</em></p> <p><strong><em>Phạm vi</em></strong></p> <p><em>VJCTS là một tạp chí truy cập mở xuất bản các tài liệu nghiên cứu, thông tin liên lạc và được đánh giá ngang hàng, liên quan tất cả các khía cạnh của phẫu thuật, can thiệp trong lĩnh vực Tim mạch, Lồng ngực.</em></p> <p><strong><em>Quá trình bình duyệt</em></strong></p> <p><em>Bất kỳ bản thảo nào trong khuôn khổ phạm vi và tuân theo hướng dẫn tác giả của tạp chí sẽ được sàng lọc biên tập và được bình duyệt ẩn danh của ít nhất một chuyên gia độc lập trong lĩnh vực này. Biên tập viên đưa ra quyết định biên tập và được Tổng biên tập thông qua cuối cùng.</em></p> <p><strong><em>Đạo đức xuất bản</em></strong></p> <p><em>Việc xuất bản một bài báo trên một tạp chí được phản biện là một nền tảng thiết yếu trong việc phát triển một mạng lưới kiến thức chặt chẽ và được tôn trọng. Nó phản ánh trực tiếp chất lượng công việc của các tác giả và các cơ sở hỗ trợ họ. Các bài báo được phản biện và thể hiện phương pháp khoa học. Do đó, điều quan trọng là phải thống nhất các tiêu chuẩn về hành vi đạo đức dự kiến cho tất cả các bên liên quan đến hoạt động xuất bản: tác giả, người biên tập tạp chí, người bình duyệt, nhà xuất bản và cộng đồng của các tạp chí do xã hội sở hữu hoặc tài trợ.</em></p> <p><strong><em>Cam kết bảo mật</em></strong></p> <p><em>VJCTS cam kết thực hiện và tuân thủ các quy định của luật và các văn bản hướng dẫn liên quan đến bảo mật thông tin cá nhân trên không gian mạng. Các thông tin mà người dùng (tác giả, độc giả, biên tập viên, người phản biện) nhập vào các biểu mẫu trên Hệ thống Quản lý xuất bản trực tuyến của VJCTS chỉ được sử dụng vào các mục đích đã được tuyên bố rõ ràng và sẽ không được cung cấp cho bất kỳ bên thứ ba nào khác, hay dùng vào bất kỳ mục đích nào khác.</em></p>The Vietnam Journal of Cardiovascular and Thoracic Surgeryvi-VNTạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam0866-7551Tavi kết hợp kỹ thuật chimney thân chung động mạch vành trái ở bệnh nhân lớn tuổi hẹp khít van đmc và hẹp nặng lad: báo cáo thành công ca lâm sàng
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1707
Tắc động mạch vành trái (LM) là biến chứng nặng nề của (TAVI) thay van động mạch chủ qua da. Siêu âm trong lòng mạch (IVUS) giúp đánh giá trực tiếp nguy cơ tắc lỗ vành sau khi bung van. Trung tâm tim mạch- Bệnh viện E xin thông báo một bệnh nhân nữ 88 tuổi, hẹp van đmc khít, suy tim, bệnh thận mạn IV. Trên chụp cắt lớp đa dãy đánh giá trước can thiệp cấy van động mạch chủ qua da cho thấy nguy cơ tắc cao. sau khi bung van Evolut Pro, chúng tôi dùng siêu âm trong lòng mạch khảo sát LM-LAD và ghi nhận lá van đmc bị đẩy lên, nằm cách lỗ LM chỉ 4,5 mm. mặc dù dòng chảy LM-LAD vẫn TIMI 3, khoảng cách 4,5 mm được xem là nguy cơ rất cao. Chúng tôi quyết định đặt stent chimney lm dự phòng tắc vành trái. tổn thương LAD-II hẹp 90% được đặt stent đồng thời. bệnh nhân ổn định và siêu âm kiểm tra lúc ra viện 7 ngày với Avmax 23mmHg, AVmean 13 mmHg, có hở rất nhẹ cạnh chân van. Kết luận: IVUS có vai trò vô cùng quan trọng trong đánh giá và dự báo tắc nghẽn cấp sau khi chung ta thành công trong can thiệp TAVI với khoảng cách lá van – thân chung động mạch vành trái ≤ 4,5 mm, chimney stenting là chiến lược hợp lý để ngăn tắc cấp và muộn thân chung động mạch vành trái.Phan Thảo NguyênNguyễn Thế HuyĐỗ Lê AnhLý Đức NgọcNguyễn Văn HuynhNguyễn Công Hựu
Copyright (c) 2026
551810.47972/vjcts.v55i.1707Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng hạ đường huyết ở người bệnh đái tháo đường type 2 tại Bệnh viện Tim Hà Nội
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1708
Mục tiêu: Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành dự phòng hạ đường huyết ở người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tim Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 200 người bệnh đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Tim Hà Nội trong thời gian từ tháng 6 năm 2024 đến tháng 1 năm 2025. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp bằng bộ câu hỏi cấu trúc, được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trong nước và quốc tế, bao gồm kiến thức về nhận biết triệu chứng, các yếu tố nguy cơ, xử trí ban đầu và thực hành dự phòng hạ đường huyết. Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành được phân tích bằng hồi quy logistic đơn biến. Kết quả: Tuổi trung bình của người bệnh là 65,3 ± 8,6; nam giới chiếm 54%. Thời gian mắc đái tháo đường trung bình là 6,8 ± 5,3 năm. Phần lớn người bệnh có kèm theo bệnh lý tim mạch (95%); 36% có tiền sử gia đình mắc đái tháo đường và 38% có tiền sử hạ đường huyết. Kiến thức về nhận biết triệu chứng hạ đường huyết không liên quan đến các đặc điểm của người bệnh. Mức thu nhập, khu vực sinh sống và tiền sử hạ đường huyết có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với kiến thức, thực hành dự phòng hạ đường huyết và xử trí ban đầu hạ đường huyết tại nhà (p < 0,05). Người bệnh có tiền sử hạ đường huyết có khả năng đạt mức kiến thức và thực hành đúng về xử trí ban đầu cao hơn 3,1 lần so với nhóm chưa từng bị hạ đường huyết (OR = 3,1; KTC 95%: 1,7–5,8; p < 0,001). Người bệnh sinh sống tại khu vực thành thị có khả năng đạt mức kiến thức và thực hành đúng cao hơn 2,8 lần so với khu vực nông thôn (OR = 2,8; KTC 95%: 1,5–5,2; p < 0,001). Người bệnh có thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng có khả năng đạt mức kiến thức và thực hành đúng cao hơn 2,7 lần so với nhóm thu nhập ≤ 5 triệu đồng/tháng (OR = 2,7; KTC 95%: 1,4–5,2; p = 0,002). Kết luận: Kiến thức và thực hành dự phòng hạ đường huyết ở người bệnh đái tháo đường type 2 chịu ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế-xã hội, nơi cư trú và tiền sử hạ đường huyết. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe và tối ưu hóa quản lý bệnh mạn tính để nâng cao hiệu quả dự phòng.Nguyễn Duy ChinhPhan Thị May
Copyright (c) 2026
5591810.47972/vjcts.v55i.1708Chất lượng cuộc sống bệnh nhân sau phẫu thuật nội soi lồng ngực một cổng vào sử dụng holmium laser cắt hạch giao cảm điều trị tăng tiết mồ hôi bàn tay tại Bệnh viện Đa khoa Thái Bình
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1709
Đặt vấn đề: Tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý, sinh hoạt và giao tiếp xã hội của người bệnh. Phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực (Endoscopic Thoracic Sympathectomy) là phương pháp điều trị hiệu quả nhất hiện nay. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng cuộc sống sau phẫu thuật vẫn còn hạn chế, đặc biệt tại bệnh viện tuyến tỉnh. Mục tiêu của nghiên cứu đánh giá chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau phẫu thuật đốt hạch giao cảm ngực một cổng vào sử dụng năng lượng Laser Holmium. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 145 bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay nguyên phát được phẫu thuật nội soi lồng ngực một cổng vào 3mm sử dụng năng lượng Holmium laser tại BVĐK Thái Bình. Chất lượng cuộc sống được đánh giá trước mổ và sau mổ 1, 3 và 6 tháng theo các lĩnh vực hoạt động xã hội, hoạt động cá nhân, cảm xúc và tình huống đặc biệt. Kết quả: 100% bệnh nhân khô tay sau mổ. Điểm chất lượng cuộc sống cải thiện rõ rệt ở tất cả các tiêu chí (p < 0,001). Tỷ lệ đánh giá chất lượng cuộc sống mức rất tốt tăng từ 21,5% trước mổ lên 82,6% sau mổ. Tỷ lệ ra mồ hôi bù trừ là 62,7% nhưng chủ yếu mức độ nhẹ và không ảnh hưởng đáng kể đến sự hài lòng chung. Kết luận: Phẫu thuật ETS một cổng sử dụng Holmium laser là phương pháp an toàn, hiệu quả, giúp cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay.Đỗ Tất ThànhĐoàn Quốc HưngNguyễn Công HựuHà Việt HùngNguyễn Thị NgaTrần Thị Quỳnh Anh
Copyright (c) 2026
55192610.47972/vjcts.v55i.1709Phình động mạch vành: báo cáo ba trường hợp lâm sàng và bàn luận y văn
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1734
Đặt vấn đề: Phình động mạch vành (CAA) là tổn thương giải phẫu hiếm gặp nhưng tiềm ẩn nguy cơ biến chứng nghiêm trọng như huyết khối, tắc mạch và nhồi máu cơ tim. Hiện nay, y văn thế giới vẫn thiếu các thử nghiệm lâm sàng lớn và hướng dẫn điều trị chuẩn hóa, khiến việc lựa chọn chiến lược xử trí giữa nội khoa, can thiệp hay phẫu thuật trở thành thách thức lớn đối với bác sĩ lâm sàng. Mục tiêu: Báo cáo đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị của ba trường hợp phình động mạch vành điển hình, từ đó bàn luận về chiến lược xử trí phù hợp. Báo cáo ca lâm sàng: Trường hợp 1: Bệnh nhân nam 69 tuổi, phình dạng túi khu trú tại động mạch mũ (LCx). Bệnh nhân được can thiệp nội mạch thành công bằng stent có màng bọc (covered stent) dưới hướng dẫn của siêu âm trong lòng mạch (IVUS). Trường hợp 2: Bệnh nhân nam 68 tuổi, phình động mạch liên thất trước (LAD) tại vị trí chia nhánh phức tạp. Hội chẩn đa chuyên khoa quyết định phẫu thuật bắc cầu chủ – vành kết hợp thắt túi phình, kết quả hậu phẫu ổn định. Trường hợp 3: Bệnh nhân nam 61 tuổi, nhập viện vì nhồi máu cơ tim cấp, huyết động không ổn định. Hình ảnh chụp mạch cho thấy phình khổng lồ ngay lỗ vào LCx kèm gánh nặng huyết khối lớn. Dù được can thiệp hút huyết khối và điều trị nội khoa tích cực, bệnh nhân diễn tiến nặng và tử vong trước khi có thể phẫu thuật. Kết luận: Quản lý phình động mạch vành cần được cá thể hóa dựa trên đặc điểm giải phẫu và lâm sàng. Can thiệp nội mạch hiệu quả với tổn thương khu trú, trong khi phẫu thuật là ưu tiên cho các ca phức tạp. Những trường hợp cấp tính kèm huyết khối lớn có tiên lượng nặng, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các chuyên khoa.Phan Thảo NguyênNguyễn Thế HuyTrần Minh GiámPhạm Thành Đạt
Copyright (c) 2026
55273210.47972/vjcts.v55i.1734Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả phẫu thuật điều trị viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn: Kết cục nội viện và theo dõi trung hạn tại một trung tâm
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1710
Đặt vấn đề: Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn (VNTMNK) là bệnh lý nặng với tỷ lệ tử vong cao. Phẫu thuật tim đóng vai trò quan trọng trong điều trị các trường hợp có biến chứng hoặc nguy cơ cao, tuy nhiên dữ liệu về kết cục sau phẫu thuật tại Việt Nam còn hạn chế. Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng – cận lâm sàng, kết cục nội viện và kết quả theo dõi tối thiểu 1 năm sau phẫu thuật ở bệnh nhân VNTMNK, đồng thời khảo sát các yếu tố liên quan đến tử vong. Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ hồi cứu – tiến cứu trên 109 bệnh nhân ≥18 tuổi được phẫu thuật điều trị VNTMNK tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM giai đoạn 12/2016–12/2025. Phân tích sống còn bằng Kaplan–Meier và hồi quy Cox đơn biến để đánh giá các yếu tố liên quan đến tử vong. Kết quả: Tuổi trung vị 54 (38,5–62) năm; nam chiếm 72,5%. Sốt (46%) và khó thở (43%) là triệu chứng nhập viện thường gặp. Thuyên tắc não và tắc mạch hệ thống lần lượt gặp ở 30,3% và 45,9% bệnh nhân. Liên cầu nhóm Viridans là tác nhân thường gặp nhất (34,9%), trong khi 27,5% cấy máu âm tính. Sùi được ghi nhận ở 98,2% bệnh nhân, trong đó 81,3% ≥10 mm. Tỷ lệ tử vong nội viện là 8,3%. Tỷ lệ sống còn sau 1 năm và 2 năm lần lượt là 94,6% và 93,2%. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và thời gian kẹp động mạch chủ có liên quan có ý nghĩa với tử vong chung. Kết luận: Phẫu thuật điều trị VNTMNK tại trung tâm cho kết quả nội viện và trung hạn khả quan. Thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể và thời gian kẹp động mạch chủ kéo dài là các yếu tố tiên lượng tử vong quan trọng.Bùi Thế DũngLê Nhật ThảoNguyễn Hoàng Định
Copyright (c) 2026
55334110.47972/vjcts.v55i.1710Chiến lược phẫu thuật ung thư phổi không tế bào nhỏ có bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: kinh nghiệm bước đầu tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1711
Đặt vấn đề: Ung thư phổi không tế bào nhỏ (UTPKTBN) và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) thường đồng mắc, làm tăng nguy cơ biến chứng chu phẫu. Tuy nhiên, tại Việt Nam còn thiếu dữ liệu tiến cứu đánh giá kết quả phẫu thuật ở bệnh nhân UTPKTBN kèm BPTNMT, đặc biệt theo phân tầng GOLD. Phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiến cứu, theo dõi dọc, đơn trung tâm được thực hiện tại Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch trong giai đoạn từ tháng 10/2024 đến tháng 9/2027. Báo cáo này trình bày phân tích tạm thời (interim analysis) trên 45 bệnh nhân liên tiếp được phẫu thuật từ 10/2024 đến 8/2025. Các biến số thu thập bao gồm đặc điểm dân số, chức năng hô hấp, kỹ thuật phẫu thuật, biến chứng hậu phẫu 30 ngày, thời gian nằm viện và tử vong 30 ngày. Kết quả được đối chiếu với y văn quốc tế (2014–2025). Kết quả: Tuổi trung bình 65,2 ± 7,4; nam giới chiếm 82,2%. FEV₁ và DLCO trung bình lần lượt đạt 61% và 64% giá trị dự đoán. PTNSLN có video hỗ trợ được thực hiện trong 66,7% trường hợp. Biến chứng hậu phẫu ghi nhận ở 28,9% bệnh nhân (viêm phổi 13,3%, rò khí kéo dài 8,9%), không có tử vong 30 ngày. Thời gian nằm viện trung vị là 8 ngày. Kết quả phù hợp với các báo cáo quốc tế.(7, 9, 11) Kết luận: Phẫu thuật cắt thùy phổi ở bệnh nhân UTPKTBN kèm BPTNMT mức độ nhẹ–trung bình có tính an toàn và khả thi cao, đặc biệt khi áp dụng kỹ thuật PTNSLN có video hỗ trợ. Việc mở rộng chỉ định cắt phân thùy phổi cho các khối u nhỏ ngoại vi có thể giúp tối ưu bảo tồn nhu mô phổi trong tương lai.Nguyễn Khánh QuangNguyễn Hoài NamTrương Thanh ThiếtNguyễn Văn ThờiTrần Lê Bảo ChâuĐỗ Cao Duy AnhLê Tiến Dũng
Copyright (c) 2026
55425210.47972/vjcts.v55i.1711Kết quả can thiệp nội mạch điều trị hẹp tắc tĩnh mạch trung tâm ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1712
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả kỹ thuật và kết quả lâm sàng của can thiệp nội mạch trong xử trí hẹp tắc tĩnh mạch trung tâm (HTTMTT) liên quan đến đường thông động tĩnh mạch (AVF) ở bệnh nhân chạy thận nhân tạo (CTNT) tại Bệnh viện Thống Nhất TP. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả loạt ca trên 37 bệnh nhân suy thận mạn giai đoạn cuối có HTTMTT được xác nhận qua chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), điều trị tại Khoa Ngoại Tim mạch – Lồng ngực, Bệnh viện Thống Nhất, giai đoạn 01/2021–01/2025. Can thiệp bao gồm nong bóng qua da (PTA) đơn thuần hoặc kết hợp đặt stent. Kết quả: Tuổi trung bình 46,1 ± 13,2 năm; tỷ lệ nam 48,6%. Thời gian từ khi tạo AVF đến chẩn đoán HTTMTT là 42,37 ± 27,14 tháng. Tổn thương chủ yếu tại tĩnh mạch dưới đòn (54,1%). Tỷ lệ thành công kỹ thuật đạt 88,5%; PTA đơn thuần chiếm 83,8%. Sau can thiệp, 90,6% bệnh nhân giảm phù tay, 71,4% giảm đau và 94,6% duy trì rù tại AVF, tiếp tục sử dụng được cho CTNT. Phân tích so sánh cho thấy nhóm PTA + stent có tỷ lệ tái hẹp tại 6 tháng thấp hơn rõ rệt so với nhóm PTA đơn thuần (0,0% so với 29,0%, p = 0,04) và thời gian đến tái hẹp kéo dài hơn (13,9 ± 4,3 so với 8,4 ± 3,6 tháng, p = 0,03). Kết luận: Can thiệp nội mạch là lựa chọn điều trị an toàn, hiệu quả cho HTTMTT ở bệnh nhân CTNT, giúp bảo tồn AVF và duy trì hiệu quả lọc máu. PTA là phương pháp đầu tay; kết hợp stent nên được ưu tiên trong các trường hợp hẹp nặng, tái phát sớm hoặc tổn thương có đàn hồi cao.Nguyễn Duy TânTrần Thị Tuyết MaiLâm Thảo Cường
Copyright (c) 2026
55536010.47972/vjcts.v55i.1712Thông báo ca lâm sàng hẹp trên van động mạch chủ được điều trị thành công
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1713
Đặt vấn đề: Hẹp trên van động mạch chủ (supravalvular aortic stenosis- SVAS) là một bệnh lý tim bẩm sinh hiếm gặp được mô tả lần đầu năm 1842 bởi tác giả Chevers. Bệnh lý này chiếm từ 8 –14% tổng số ca hẹp động mạch chủ bẩm sinh và 0,05% bệnh tim bẩm sinh1,2. Phẫu thuật sửa chữa hẹp trên van động mạch chủ là một phương pháp điều trị hiệu quả của bệnh lý này. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo một trường hợp lâm sàng hẹp trên van động mạch chủ được chẩn đoán và điều trị thành công tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức Kết quả: Bệnh nhân nam 27 tuổi được chẩn đoán hẹp trên van động mạch chủ và điều trị thành công bằng phương pháp phẫu thuật tạo hình gốc động mạch chủ với kĩ thuật 3 miếng vá cải tiến (kĩ thuật Brom). Bệnh nhân được chụp lại cắt lớp vi tính ngực sau mổ 3 tháng cho kết quả khả quan. Kết luận: Bệnh lý hẹp trên van động mạch chủ là một bệnh lý hiếm gặp đi kèm nhiều nguy cơ và biến chứng. Phẫu thuật tạo hình gốc động mạch chủ là một phương pháp đã mang lại hiệu quả tốt cho người bệnh.Lê Trường GiangHoàng Trọng HảiPhùng Duy Hồng Sơn
Copyright (c) 2026
55616510.47972/vjcts.v55i.1713Tính khả thi và an toàn của phục hồi tăng cường sau mổ (eras) trong phẫu thuật tim hở ở người cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1714
Đặt vấn đề: Phẫu thuật tim ở người cao tuổi thường nặng và rất nhiều nguy cơ. Phục hồi tăng cường sau phẫu thuật (Enhanced Recovery After Surgery – ERAS) được chứng minh là có nhiều ưu điểm và lợi ích trong các phẫu thuật lớn. Tuy nhiên, thông tin ở người cao tuổi tại Việt Nam còn ít. Nghiên cứu này nhằm đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả bước đầu của áp dụng ERAS trong phẫu thuật tim hở ở người cao tuổi. Đối tượng và phương pháp: hồi cứu mô tả 66 bệnh nhân trên 60 tuổi trải qua phẫu thuật tim hở có áp dụng ERAS từ 01/2022–01/2025 tại Bệnh viện Thống Nhất. Kết quả và bàn luận: Tuổi trung bình là 65,3; 63,6% là nam; 42,4% có nguy cơ dinh dưỡng cao; bệnh đồng mắc tăng huyết áp là 77,3%, đái tháo đường là 43,9%. Tỉ lệ tuân thủ ERAS chung đạt 82–88%, với tiêu chí kiểm soát lượng dịch là 95,5%, giảm đau đa mô thức là 92,4% và rút dẫn lưu sớm là 91,0%. Biến chứng sớm có tổn thương thận cấp là 16,5%, viêm phổi là 10,6%, tử vong 4,5%. Hiệu quả kinh tế bước đầu khả quan với thời gian thở máy trung bình 11 giờ, thời gian hồi sức 5 ngày và nằm viện 16 ngày. Kết luận: Áp dụng ERAS có tính khả thi, an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế bước đầu trong phẫu thuật tim người trên 60 tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất. Chương trình giúp cải thiện quá trình hồi phục, giảm thủ thuật lại, hạn chế biến chứng sớm và rút ngắn thời gian nằm viện, cho thấy tiềm năng mở rộng áp dụng ERAS trong tương lai.Đỗ Cao Duy AnhNguyễn Đỗ NhânĐỗ Kim Quế
Copyright (c) 2026
55667310.47972/vjcts.v55i.1714Hạ natri máu nặng sau can thiệp đặt stent động mạch cảnh: báo cáo ca lâm sàng và tổng quan y văn
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1715
Giới thiệu: Hạ natri máu nặng sau phẫu thuật bóc lớp nội mạc và can thiệp đặt stent động mạch cảnh là biến chứng hiếm gặp nhưng tiềm ẩn nguy cơ tử vong cao nếu không được nhận diện và xử trí kịp thời. Triệu chứng lâm sàng dễ nhầm lẫn với tai biến mạch máu não, gây trì hoãn trong chẩn đoán và điều trị. Ca lâm sàng: Bệnh nhân nam, 70 tuổi, nhập viện với chẩn đoán hẹp 80% động mạch cảnh trong bên phải đoạn gốc, được can thiệp nội mạch đặt stent thành công. Vào ngày thứ ba sau thủ thuật, bệnh nhân xuất hiện đau đầu dữ dội, lơ mơ, mất định hướng không gian – thời gian. Kết quả chụp cắt lớp vi tính và cộng hưởng từ sọ não không ghi nhận tổn thương não cấp tính. Xét nghiệm sinh hóa phát hiện nồng độ natri máu giảm nặng xuống 102 mmol/L, áp lực thẩm thấu máu 202 mOsmol/L, natri niệu tăng 58 mEq/L, phù hợp với hội chứng tăng tiết hormone chống bài niệu không phù hợp (SIADH), với vai trò thúc đẩy của thuốc lợi tiểu nhóm thiazide (Indapamide). Bệnh nhân được bù dung dịch muối ưu trương và hạn chế dịch nhập; tình trạng bệnh cải thiện hoàn toàn sau 7 ngày điều trị. Kết luận: Biến chứng hạ natri máu sau can thiệp mạch cảnh cần được bác sĩ chuyên khoa mạch máu cân nhắc trong chẩn đoán phân biệt khi bệnh nhân có rối loạn tri giác sau thủ thuật. Việc kiểm tra thường quy điện giải đồ sau can thiệp, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi đang dùng thuốc lợi tiểu, có thể giúp phát hiện sớm và cải thiện tiên lượng.Nguyễn Duy TânHuỳnh Ngọc Hạnh
Copyright (c) 2026
55748110.47972/vjcts.v55i.1715Các chiến lược vô cảm trong cấy van động mạch chủ qua đường động mạch đùi (tf-tavi): một tổng quan tài liệu
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1716
Mục tiêu: Tóm lược bằng chứng về kỹ thuật vô cảm trong cấy van động mạch chủ qua đường động mạch đùi (TF-TAVI) và đề xuất lưu đồ định hướng thực hành. Phương pháp: Tìm kiếm PubMed, Cochrane với các từ khóa: “TAVI”, “transfemoral”, “local anesthesia”, “conscious sedation”, “regional anesthesia”, “nerve block”. Sau đó lựa chọn ra các nghiên cứu cập nhật và liên quan đến lâm sàng để tổng hợp định tính. Kết quả: Qua tổng quan y văn, gây tê tại chỗ phối hợp an thần tỉnh (CS/LA) được chứng minh không thua kém gây mê toàn thân về các tiêu chí đánh giá ngắn hạn, đồng thời duy trì tính an toàn khi theo dõi dài hạn. Phân tích gộp và đăng kí sổ bộ ghi nhận lợi ích sớm nhỏ nhưng nhất quán, khả thi. Vì vậy CS/LA nên là chiến lược mặc định cho TF-TAVI. Gây tê vùng (RA) là bổ trợ: ưu tiên phong bế chậu bẹn-chậu hạ vị (II IHB), cân nhắc phong bế khoang cân mạc chậu (FIB) hoặc phong bế mặt phẳng cơ bụng ngang (TAPB) khi đau nhiều thành bụng dưới hoặc tăng giảm đau kéo dài. Gây tê tủy sống (SA) chỉ xem xét chọn lọc, với chuẩn độ liều, kiểm soát chặt chẽ huyết động. Kết luận: CS/LA là mặc định. RA bổ trợ tăng chất lượng vô cảm và giảm tiêu thụ thuốc gây mê. SA dùng chọn lọc. Cần thử nghiệm ngẫu nhiên đa trung tâm để chuẩn hóa lưu đồ vô cảm TF-TAVI.Nguyễn Tất BìnhNguyễn Trung ThànhĐặng Thị Thùy VânTrần Thị Thanh HằngTrần Thị Ngọc BíchHồ Thị Ngọc MaiLê Thị TâmTrần Thị Ánh HiềnNguyễn Thị Như HàNguyễn Thị Hoài Nam
Copyright (c) 2026
55828910.47972/vjcts.v55i.1716Phẫu thuật điều trị túi thừa kommerell kèm biến thể quai động mạch chủ phải: báo cáo loạt ca lâm sàng và chiến lược điều trị
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1717
Mục tiêu: Trình bày kinh nghiệm phẫu thuật và đánh giá chiến lược điều trị các trường hợp quai động mạch chủ (ĐMC) phải kèm túi thừa Kommerell bằng phương pháp phẫu thuật mổ mở tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả loạt ca lâm sàng từ năm 2020 đến 2025 tại Bệnh viện Chợ Rẫy trên các bệnh nhân có quai ĐMC phải kèm túi thừa Kommerell được chỉ định phẫu thuật mổ mở. Kết quả: Bốn bệnh nhân được phẫu thuật thành công qua đường giữa xương ức, cắt bỏ hoàn toàn túi thừa và tái tạo lưu thông ĐMC bằng ống ghép. Thời gian chạy máy trung bình là 220 ± 40 phút. Không có trường hợp nào tử vong trong mổ hay sau mổ sớm. Có một bệnh nhân lớn tuổi bị viêm phổi sau mổ đòi hỏi mở khí quản kéo dài. Các bệnh nhân còn lại phục hồi tốt, triệu chứng chèn ép được cải thiện rõ rệt, hình ảnh cắt lớp vi tính sau mổ cho thấy ống ghép lưu thông tốt. Riêng một trường hợp bệnh nhân đã phẫu thuật lai trước đó có diễn tiến nặng do chèn ép phế quản gia tăng bởi stent graft, tuy nhiên gia đình đã từ chối mổ lại. Kết luận: Phẫu thuật mổ mở vẫn giữ vai trò chủ đạo trong điều trị các trường hợp quai ĐMC phải kèm túi thừa Kommerell, đặc biệt khi người bệnh có giải phẫu phức tạp, túi phình lớn hoặc triệu chứng chèn ép trung thất rõ rệt. Phương pháp này giúp giải phóng triệt để tình trạng chèn ép trung thất và đảm bảo tái tạo lưu thông mạch máu lâu dài.Trương Đình Đức AnhNguyễn Thái An
Copyright (c) 2026
55909810.47972/vjcts.v55i.1717Phẫu thuật tạm thời trong điều trị bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em: vai trò và kết quả
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1719
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò và kết quả của phẫu thuật tạm thời trong điều trị bệnh tim bẩm sinh tại khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 03/2017 đến tháng 02/2026. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang hồi cứu mô tả trên tất cả trẻ được phẫu thuật tạm thời tại Khoa Hồi sức phẫu thuật tim trẻ em, Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 03/2017 đến tháng 02/2026. Thông tin và kết quả điều trị của đối tượng nghiên cứu được thu thập và tiến hành phân tích thống kê. Kết quả: Trong thời gian nghiên cứu, có 115 bệnh nhi được phẫu thuật tim tạm thời, trong đó shunt chủ–phổi (41,7%) và Glenn shunt hai hướng (47%) là hai phương pháp được thực hiện nhiều nhất. Tuổi phẫu thuật khác nhau giữa các nhóm kỹ thuật phẫu thuật, như thắt hẹp động mạch phổi và Norwood chủ yếu thực hiện ở trẻ nhỏ hơn. Phần lớn bệnh nhân nhập viện trong tình trạng suy tim mức độ trung bình, với Ross độ II chiếm 43,5% và độ III chiếm 27,8%. Thời gian mổ trung vị dao động từ 130 đến 390 phút, thời gian tuần hoàn ngoài cơ thể (đối với bệnh nhân có hỗ trợ THNCT): từ 90 đến 300 phút. Biến chứng sau mổ bao gồm mổ lại (17,3%), tắc shunt (13%), tràn dịch màng phổi (4,3%) và tử vong (12,1%). Có 55,6% bệnh nhân được tiếp tục phẫu thuật giai đoạn hai tại thời điểm thống kê. Kết luận: Phẫu thuật tạm thời đóng vai trò quan trọng trong điều trị bệnh tim bẩm sinh phức tạp, là giai đoạn bước đầu trong điều trị tim bẩm sinh. Shunt chủ–phổi (41,7%) và Glenn shunt (47%) là hai phương pháp chủ yếu. Phần lớn bệnh nhân được can thiệp ở giai đoạn suy tim trung bình (Ross II–III: 71,3%). Tỷ lệ biến chứng tử vong chung 12,1%. Tại thời điểm thống kê có 55,6% bệnh nhân được tiếp tục phẫu thuật giai đoạn hai, cho thấy hiệu quả của chiến lược điều trị nhiều giai đoạn.Lê Thành Khánh VânĐoàn Văn Phụng
Copyright (c) 2026
559910510.47972/vjcts.v55i.1719Đánh giá kết quả điều trị vết thương mạch máu vùng cổ và nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1723
Đặt vấn đề: Vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ là một cấp cứu ngoại khoa nặng, do nguy cơ mất máu nhanh, tổn thương thần kinh trung ương và tử vong cao. Việc chẩn đoán và xử trí kịp thời có vai trò quyết định đến tiên lượng bệnh nhân. Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sớm vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt ca trên 32 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2023. Kết quả: Có 32 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ, nam giới chiếm đa số (93,75%), tuổi trung bình 31,22 ± 9,37. Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn sinh hoạt, tác nhân chủ yếu do bạch khí. Vùng II của cổ là vị trí tổn thương thường gặp nhất (81,3%). Tổng cộng ghi nhận 35 tổn thương mạch máu trên 32 bệnh nhân, trong đó tĩnh mạch chiếm 65,7%, chủ yếu là tĩnh mạch cảnh trong, còn động mạch chiếm 34,3%. Hình thái tổn thương thường gặp nhất là vết thương thành bên (74,3%), 15,6% bệnh nhân có sốc mất máu khi nhập viện. Tất cả bệnh nhân đều được phẫu thuật cấp cứu, với thời gian chờ mổ trung bình 6,1 ± 4,2 giờ. Phương pháp phẫu thuật chủ yếu là khâu vết thương thành bên (77,1%) và nối tận–tận (14,3%); phục hồi lưu thông mạch máu được thực hiện trong 94,3% tổn thương. Kết quả điều trị sớm cho thấy 96,9% bệnh nhân đạt kết quả tốt, 1 trường hợp chiếm 3,1% di chứng thần kinh, và không ghi nhận trường hợp tử vong. Biến chứng sau mổ gặp với tỷ lệ thấp, gồm nhiễm trùng nông vết mổ (3,1%) và tụ dịch vết mổ (6,3%). Thời gian nằm viện trung bình là 5,8 ± 2,5 ngày. Kết luận: Vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ cần được chẩn đoán sớm và xử trí phẫu thuật kịp thời giúp cải thiện kết quả điều trị sớm và giảm biến chứng.Phan Quốc HùngNguyễn Trung KiênNguyễn Duy Khải
Copyright (c) 2026
5510611410.47972/vjcts.v55i.1723Đánh giá kết quả phẫu thuật hẹp phế quản do lao tại Bệnh viện Phổi Trung ương
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1722
Mục tiêu: Nghiên cứu một số đặc điểm lâm sàng, chỉ định, kết quả sớm của phẫu thuật hẹp phế quản do lao tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu hồ sơ bệnh án, mô tả cắt ngang không có đối chứng, thu thập thông tin qua bệnh án nghiên cứu và hồ sơ theo dõi, đánh giá sau điều trị cho 24 bệnh nhân được phẫu thuật hẹp phế quản do lao tại Bệnh viện Phổi Trung ương giai đoạn 2009-2025. Kết quả: Tuổi trung bình 35,82 ± 16,68 (từ 10 đến 42 tuổi), nam/nữ = 9 (37,5%) / 15 (62,5%). 100% bệnh nhân được gây mê nội khí quản. Thời gian phẫu thuật trung bình 238,6 ± 72,6 phút (180-480), thời gian dẫn lưu trung bình 5,9 ± 3,1 (từ 3-20 ngày), thời gian hậu phẫu 13,2 ± 5,3 ngày (7-22). Tỷ lệ biến chứng (20,8%), phẫu thuật đạt kết quả tốt (79,2%). Kết luận: Phẫu thuật tạo hình phế quản là một phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả cho hội chứng hẹp phế quản nặng sau lao. Cả kỹ thuật nối phế quản và theo dõi bệnh nhân kỹ lưỡng đều đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của các ca phẫu thuật.Đinh Văn LượngNguyễn Sĩ KhánhĐinh Văn TuấnPhạm Thị Thanh ĐuaNguyễn Quốc TuầnVũ Quý DươngPhạm Thành ĐạtAssoc. Prof. Đỗ Anh TiếnNguyễn Công HựuProf. Lê Ngọc Thành
Copyright (c) 2026
5511512110.47972/vjcts.v55i.1722U máu tim xuất phát từ xoang tĩnh mạch vành: báo cáo một ca hiếm gặp ở rãnh nhĩ thất trái được phẫu thuật thành công
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1727
Đặt vấn đề: U máu tim là khối u lành tính cực kỳ hiếm gặp, chỉ chiếm khoảng 2-3% các khối u nguyên phát tại tim. U máu tim xuất phát từ xoang tĩnh mạch vành (đoạn nằm ở rãnh nhĩ thất trái) là vị trí đặc biệt hiếm, có thể gây chèn ép các cấu trúc lân cận và đe dọa tính mạng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Chúng tôi báo cáo một trường hợp u máu tim xuất phát từ vị trí này được phẫu thuật cắt bỏ thành công. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Báo cáo một trường hợp lâm sàng u máu tim hiếm gặp được chẩn đoán và điều trị thành công tại Bệnh viện Đa khoa Kiên Giang. Kết quả: Bệnh nhân nữ 46 tuổi, nhập viện vì đau tức ngực trái, hồi hộp, đánh trống ngực, khó thở và nuốt nghẹn. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh (siêu âm tim, CT ngực có cản quang, MRI tim, chụp mạch vành DSA) ghi nhận khối u kích thước 52x65mm xuất phát từ xoang tĩnh mạch vành (đoạn nằm ở rãnh nhĩ thất trái), chèn ép nhĩ trái, lỗ đổ tĩnh mạch phổi dưới phải và thành dưới thất trái. Bệnh nhân được phẫu thuật cắt bỏ khối u dưới hỗ trợ của hệ thống tim phổi nhân tạo. Thời gian phẫu thuật 3,5 giờ, thời gian chạy máy tim phổi nhân tạo 60 phút. Kết quả giải phẫu bệnh xác định là u máu tim thể hang. Hậu phẫu diễn tiến thuận lợi, bệnh nhân xuất viện sau 10 ngày. Kết luận: U máu tim xuất phát từ xoang tĩnh mạch vành (đoạn nằm ở rãnh nhĩ thất trái) là một thực thể lâm sàng cực kỳ hiếm gặp. Chẩn đoán chính xác dựa vào sự phối hợp các phương tiện hình ảnh học hiện đại. Phẫu thuật cắt bỏ triệt để dưới hỗ trợ của tuần hoàn ngoài cơ thể là phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả, mang lại tiên lượng tốt cho người bệnh.Huỳnh Hải ĐăngDanh TrungNguyễn Thái AnNguyễn Hữu NghĩaĐào Trung ThànhPhạm Minh Đức
Copyright (c) 2026
5512212810.47972/vjcts.v55i.1727Nút mạch kết hợp coil và keo nbca trong điều trị giả phình và rò động mạch – thể xốp sau phẫu thuật turp: Nhân 1 trường hợp
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1730
Đặt vấn đề: Tổn thương mạch máu sau phẫu thuật cắt đốt nội soi tuyến tiền liệt qua niệu đạo (TURP) là biến chứng hiếm gặp nhưng có thể gây tiểu máu tái phát và nghiêm trọng. Giả phình động mạch thẹn trong hoặc động mạch niệu đạo đã được ghi nhận trong y văn. Tuy nhiên, rò động mạch – thể xốp là nguyên nhân hiếm gặp và dễ bị bỏ sót của chảy máu sau phẫu thuật. Chúng tôi trình bày một trường hợp can thiệp nội mạch thành công trong điều trị tổn thương tổn thương mạch máu ở niệu đạo kết hợp giữa rò động mạch thể xốp và giả phình mạch sau phẫu thuật TURP. Trình bày ca bệnh: Bệnh nhân nam 88 tuổi, có tiền sử TURP cách đây 5 năm, sau phẫu thuật bệnh nhân xuất hiện tiểu máu đại thể tái phát nhiều lần và đã được nội soi cầm máu. Hai tháng trước nhập viện, bệnh nhân tiếp tục xuất hiện đợt tiểu máu đại thể, tiếp tục được đốt cầm máu qua nội soi qua niệu đạo nhưng không thể xử lý triệt để. Chụp CTA mạch máu vùng chậu ghi nhận giãn động mạch thể hang, động mạch thể xốp và động mạch niệu đạo trái, có giả phình nhỏ trong vùng thể xốp, đồng thời có rò giữa động mạch niệu đạo vào thể xốp. Chụp mạch máu DSA xác định tình trạng tăng sinh mạch máu từ động mạch thẹn trong trái kèm giả phình và rò động mạch – thể xốp. Can thiệp nội mạch siêu chọn lọc được thực hiện qua đường động mạch đùi phải. Nhánh động mạch thể hang được nút bằng coil Interlock 3mm-8cm (Boston, Mỹ) nhằm giảm lưu lượng dòng chảy, bảo tồn động mạch lưng dương vật, sau đó nhánh rò chính của động mạch thể xốp được nút bằng N-butyl cyanoacrylate (NBCA) pha Lipiodol theo tỷ lệ 1:3. Các nhánh động mạch lưng dương vật và nhánh tầng sinh môn được bảo tồn. Chụp kiểm tra sau can thiệp cho thấy tắc hoàn toàn giả phình và vùng rò thể xốp, không có tắc mạch ngoài ý muốn. Tiểu máu chấm dứt ngay sau thủ thuật, không ghi nhận dấu hiệu thiếu máu nuôi dương vật hay vùng chậu. Bệnh nhân xuất viện sau 1 ngày trong tình trạng ổn định. Kết luận: Tổn thương mạch muộn sau TURP có thể biểu hiện dưới dạng phối hợp giả phình và rò động mạch – thể xốp, gây tiểu máu tái phát. Nút mạch siêu chọn lọc kết hợp coil và NBCA cho phép điều trị triệt để và an toàn, đồng thời bảo tồn hệ động mạch ở nuôi các cấu trúc quan trọng vùng chậu. Việc nhận diện sớm và can thiệp nội mạch có mục tiêu là yếu tố then chốt để đạt hiệu quả cầm máu bền vững.Trần Quý TườngĐặng Vinh HiệpĐỗ Kim Quế
Copyright (c) 2026
5512913410.47972/vjcts.v55i.1730Kết quả điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính bằng can thiệp nội mạch với bóng phủ thuốc
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1732
Đặt vấn đề: Can thiệp nội mạch đã trở thành chiến lược điều trị ưu tiên cho hẹp tắc động mạch đùi-khoeo mạn tính nhờ tính ít xâm lấn, tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian hồi phục nhanh và hiệu quả lâu dài tương đương hoặc vượt trội so với phẫu thuật kinh điển. Tuy nhiên, nong bóng thông thường (POBA) và đặt stent kim loại vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Bóng phủ thuốc (DCB) ra đời với chiến lược “leave nothing behind”, giúp bảo tồn cấu trúc sinh lý tự nhiên của thành mạch sau tái thông và tránh các nguy cơ lâu dài liên quan đến khung kim loại. Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kết quả sau 12 tháng can thiệp nội mạch nong bóng phủ thuốc Paclitaxel trong điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính tại Bệnh viện Thống Nhất. Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca. Kết quả: từ 06/2022 đến 06/2024 có 122 bệnh nhân được điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch bằng bóng phủ thuốc tại bệnh viện Thống Nhất. Tỷ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng chu phẫu lên đến 93.4%. Sau can thiệp, 54.1% bệnh nhân hoàn toàn hết triệu chứng, 4.1% giảm còn đau cách hồi nhẹ, và 1.6% giảm còn đau trung bình. Không còn trường hợp nào thuộc phân độ Rutherford 3 hoặc 4 ngay sau thủ thuật. Về huyết động, chỉ số ABI trung bình tăng từ 0.58 lên 0.98 sau can thiệp. Đồng thời, 58.5% trường hợp ghi nhận dòng chảy ba pha sau can thiệp. Theo dõi đến 12 tháng, hiệu quả điều trị vẫn được duy trì ở mức cao. Tỷ lệ tái thông nguyên phát tại 12 tháng đạt 74.2% và tỷ lệ bảo tồn chi đạt 91.8%. Kết luận: chiến lược "can thiệp nội mạch ưu tiên bằng bóng phủ thuốc” là hợp lý và khả thi trên nhóm bệnh nhân tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính. giúp duy trì kết quả lâu dài, đồng thời hạn chế nhu cầu can thiệp bổ sung so với các phương thức khác.Nguyễn Duy TânPhạm Hữu ĐứcNguyễn Ngọc Hải ĐăngTrần Minh Bảo Luân
Copyright (c) 2026
5513514210.47972/vjcts.v55i.1732Kết quả nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh và các yếu tố liên quan trong nghiên cứu tại Trung tâm tim mạch, Bệnh viện E
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1721
Mục tiêu: Đánh giá mức độ hài lòng của người bệnh và xác định một số yếu tố liên quan tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 200 người bệnh đến khám và điều trị ngoại trú tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2026. Sự hài lòng được đánh giá bằng thang đo SERVPERF với thang Likert 5 mức. Kết quả: Mức độ hài lòng chung đạt cao với điểm trung bình 4,72 ± 0,30, tương ứng tỷ lệ hài lòng 97%. Trong các khía cạnh, yếu tố đồng cảm (4,91 ± 0,29) và đảm bảo (4,88 ± 0,32) được đánh giá cao nhất, trong khi yếu tố đáp ứng có tỷ lệ hài lòng thấp hơn (92,5%). Phân tích cho thấy nơi ở và nhóm tuổi có liên quan đến yếu tố hữu hình và đáp ứng (p < 0,05); nhóm tuổi liên quan đến yếu tố tin cậy (p < 0,05); giới tính liên quan đến yếu tố đảm bảo (p < 0,05). Không ghi nhận mối liên quan có ý nghĩa thống kê với hình thức khám, khoảng cách và đối tượng khám. Kết luận: Người bệnh tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện E có mức độ hài lòng cao đối với chất lượng dịch vụ. Một số yếu tố như tuổi, giới tính và nơi ở có liên quan đến các khía cạnh của sự hài lòng. Cần chú trọng cải thiện yếu tố đáp ứng nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và trải nghiệm người bệnh.Ngô Ngân AnNguyễn Trần ThủyThái Nhật LệPhạm Đắc Trung
Copyright (c) 2026
5514315110.47972/vjcts.v55i.1721Kết quả phẫu thuật nội soi cắt u trung thất tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp giai đoạn 2020 – 2025
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1737
Mục tiêu: Nhận xét kết quả phẫu thuật nội soi cắt u trung thất tại bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp giai đoạn 2020–2025. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hồi cứu các bệnh nhân u trung thất được phẫu thuật nội soi cắt u tại khoa phẫu thuật tim mạch – lồng ngực và khoa ngoại tổng hợp Bệnh viện Hữu nghị Việt Tiệp, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2025. Kết quả: Có 42 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên cứu. Đau tức ngực là triệu chứng phổ biến nhất khiến bệnh nhân nhập viện gặp ở 16 bệnh nhân (38,1%). Đa phần đều có tổn thương trên phim X quang với 33 bệnh nhân (78,6%). Vị trí và thương tổn thường gặp nhất trên phim CLVT là u trung thất trước và u dạng đặc với lần lượt 66,7% và 47,6%. U tuyến ức chiếm tỷ lệ cao nhất với 16 (38,1%) bệnh nhân. Không có trường hợp nào tử vong trong quá trình theo dõi. Hầu hết các trường hợp sau mổ ghi nhận kết quả tốt. Kết luận: Phẫu thuật nội soi lồng ngực áp dụng được cho hầu hết các vị trí và thương tổn u trung thất. Kết quả sớm sau phẫu thuật cho tỷ lệ tai biến và biến chứng thấp.Nguyễn Thế MayPhạm Quốc Hoa
Copyright (c) 2026
5515215710.47972/vjcts.v55i.1737Kết quả laser nội tĩnh mạch trong điều trị suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1740
Đặt vấn đề: Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là bệnh lý phổ biến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và làm giảm năng suất lao động. Điều trị bằng phương pháp laser nội tĩnh mạch đã chứng minh được hiệu quả trong việc giảm thời gian nằm viện và hạn chế biến chứng. Tại Khánh Hòa, đây là kỹ thuật tương đối mới và đang được áp dụng trong thời gian gần đây nhằm đáp ứng nhu cầu điều trị kỹ thuật cao của người dân ngày càng tăng. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị của phương pháp can thiệp laser nội tĩnh mạch. Thiết kế nghiên cứu : hồi cứu mô tả loạt ca. Kết quả: từ tháng 7/ 2024 đến tháng 9/2025 có 73 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị suy tĩnh mạch mạn tính tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Khánh Hòa bằng kỹ thuật laser nội tĩnh mạch. Tuổi trung bình là 57,4 ± 11,9; nữ giới chiếm đa số (65,8%). Đa số bệnh nhân có BMI trung bình cao 23,8 ± 2,1kg/m2 và có đặc thù nghề nghiệp phải đứng lâu trên 4 giờ mỗi ngày (61,6%). Trước can thiệp, bệnh nhân chủ yếu ở phân độ CEAP C2 (47,9%) và C3 (50,7%) với điểm VCSS trung bình 5,5 ± 2,2. Sau can thiệp 1 tuần, 100% bệnh nhân hết triệu chứng đau, điểm VCSS giảm mạnh xuống còn 1,6 ± 0,6 (p<0,001); Phân độ CEAP có 95,9% bệnh nhân chuyển biến về mức C0. Tỷ lệ tĩnh mạch hiện tắc hoàn toàn đạt 100% trên siêu âm Doppler. Các biến chứng ghi nhận ở mức thấp và nhẹ bao gồm thâm tím (1,4%), bỏng da (1,4%), và đau,dị cảm (2,7%). Kết luận: Can thiệp laser tĩnh mạch là phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả cao, giúp cải thiện nhanh chóng triệu chứng lâm sàng cho bệnh nhân tại địa phương.Lâm Văn NútNguyễn Đỗ Thành NhânLê Viết HuấnTrần Minh Bảo Luân
Copyright (c) 2026
5515816510.47972/vjcts.v55i.1740Sử dụng mô tiểu nhĩ phải để tạo hình van động mạch phổi trong phẫu thuật sửa chữa tứ chứng fallot: kỹ thuật và kinh nghiệm bước đầu tại Bệnh viện Tim Hà Nội
https://vjcts.vn/index.php/vjcts/article/view/1741
Mục tiêu: Đánh giá tính khả thi, an toàn và hiệu quả ngắn hạn của kỹ thuật tái tạo van động mạch phổi hai lá bằng mô tiểu nhĩ phải trong phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot. Đối tượng phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả theo dõi dọc trên 9 bệnh nhân được phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot kèm tái tạo van động mạch phổi bằng mổ tiểu nhĩ phải tại Bệnh viện Tim Hà Nội. Kết quả: Không có tử vong sớm. Ở thời điểm xuất viện, đa số bệnh nhân không có hoặc chỉ hở phổi nhẹ, 1 trường hợp hở van mức độ vừa và không ghi nhận hở phổi mức độ nặng. Trung vị của chênh áp tối đa của đường ra thất phải 15 mmHg (5–35 mmHg). Diễn biến hồi sức–nằm viện thuận lợi, thời gian nằm hồi sức trung vị là 5 ngày (2-14 ngày), thời gian nằm viện sau phẫu thuật trung vị là 13 ngày (6 – 27 ngày). Tại các mốc theo dõi 1–6 tháng, 6 trường hợp duy trì hở phổi nhẹ, 3 trường hợp hở van mức độ vừa và không ghi nhận trường hợp nào cần can thiệp lại. Kết luận: Tái tạo van động mạch phổi hai lá bằng mô tiểu nhĩ phải trong sửa toàn bộ bệnh lý tứ chứng Fallot là kỹ thuật an toàn, đạt hiệu quả tốt trong giai đoạn sớm. Kết quả này gợi mở tiềm năng mở rộng chỉ định cho các bệnh cảnh cần tái tạo đường ra thất phải và van động mạch phổi. Cần có thêm các theo dõi trung–dài hạn trên cỡ mẫu lớn hơn để khẳng định giá trị của kỹ thuật.Nguyễn Sinh HiềnNguyễn Đăng HùngNguyễn Hữu Phong
Copyright (c) 2026
5516617510.47972/vjcts.v55i.1741