Đánh giá kết quả điều trị vết thương mạch máu vùng cổ và nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy

Phan Quốc Hùng1,2, Nguyễn Trung Kiên1,2, , Nguyễn Duy Khải3
1 Bệnh viện Chợ Rẫy
2 Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
3 Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ là một cấp cứu ngoại khoa nặng, do nguy cơ mất máu nhanh, tổn thương thần kinh trung ương và tử vong cao. Việc chẩn đoán và xử trí kịp thời có vai trò quyết định đến tiên lượng bệnh nhân.


Mục tiêu:  Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị sớm vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu:  Nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt ca trên 32 bệnh nhân được phẫu thuật điều trị vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2016 đến tháng 12/2023.


Kết quả: Có 32 bệnh nhân được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ, nam giới chiếm đa số (93,75%), tuổi trung bình 31,22 ± 9,37. Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn sinh hoạt, tác nhân chủ yếu do bạch khí. Vùng II của cổ là vị trí tổn thương thường gặp nhất (81,3%). Tổng cộng ghi nhận 35 tổn thương mạch máu trên 32 bệnh nhân, trong đó tĩnh mạch chiếm 65,7%, chủ yếu là tĩnh mạch cảnh trong, còn động mạch chiếm 34,3%. Hình thái tổn thương thường gặp nhất là vết thương thành bên (74,3%), 15,6% bệnh nhân có sốc mất máu khi nhập viện. Tất cả bệnh nhân đều được phẫu thuật cấp cứu, với thời gian chờ mổ trung bình 6,1 ± 4,2 giờ. Phương pháp phẫu thuật chủ yếu là khâu vết thương thành bên (77,1%) và nối tận–tận (14,3%); phục hồi lưu thông mạch máu được thực hiện trong 94,3% tổn thương. Kết quả điều trị sớm cho thấy 96,9% bệnh nhân đạt kết quả tốt, 1 trường hợp chiếm 3,1% di chứng thần kinh, và không ghi nhận trường hợp tử vong. Biến chứng sau mổ gặp với tỷ lệ thấp, gồm nhiễm trùng nông vết mổ (3,1%) và tụ dịch vết mổ (6,3%). Thời gian nằm viện trung bình là 5,8 ± 2,5 ngày.


Kết luận:  Vết thương mạch máu vùng cổ – nền cổ cần được chẩn đoán sớm và xử trí phẫu thuật kịp thời giúp cải thiện kết quả điều trị sớm và giảm biến chứng.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. Đặng, H.Đ., Phẫu thuật cấp cứu tim mạch và lồng ngực. 2001, Hà Nội: Nhà xuất bản Y học.
2. Bộ môn Ngoại, Trường Đại học Y Hà Nội. Vết thương mạch máu vùng cổ. Chấn thương - Vết thương mạch máu. Nhà xuất bản Y học; 2024:162-172.
3. Loss, L. and K. Inaba, Penetrating neck trauma: a comprehensive review. Trauma Surgery & Acute Care Open, 2025. 10(1): p. e001619.
4. Feliciano, D.V., E.E. Moore, and K.L. Mattox, Trauma. 1996, Stamford, Connecticut: Appleton & Lange. 329–343.
5. Trần, Q.T., Vết thương mạch máu vùng cổ và nền cổ. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 2000. 4(Phụ bản 1): p. 1–7.
6. Tanamal, P., Management and outcomes of penetrating carotid artery injuries. Journal of Vascular Surgery, 2025.
7. Madsen, A.S., Outcomes of penetrating carotid artery injuries: a multicentre study. World Journal of Surgery, 2024.
8. Nguyễn, L.V., Đánh giá kết quả điều trị vết thương mạch máu vùng cổ nền cổ tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2007–2012. 2012, Đại học Y Hà Nội.
9. Rao, P.M., et al., Cervical vascular injuries: a trauma center experience. Surgery, 1993. 114: p. 527–531.
10. Nair, R., J.V. Robbs, and D.J. Muckart, Management of penetrating cervicomediastinal venous trauma. European Journal of Vascular and Endovascular Surgery, 2000. 19(1): p. 65–69.