Kết quả điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính bằng can thiệp nội mạch với bóng phủ thuốc
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Đặt vấn đề: Can thiệp nội mạch đã trở thành chiến lược điều trị ưu tiên cho hẹp tắc động mạch đùi-khoeo mạn tính nhờ tính ít xâm lấn, tỷ lệ biến chứng thấp, thời gian hồi phục nhanh và hiệu quả lâu dài tương đương hoặc vượt trội so với phẫu thuật kinh điển. Tuy nhiên, nong bóng thông thường (POBA) và đặt stent kim loại vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Bóng phủ thuốc (DCB) ra đời với chiến lược “leave nothing behind”, giúp bảo tồn cấu trúc sinh lý tự nhiên của thành mạch sau tái thông và tránh các nguy cơ lâu dài liên quan đến khung kim loại.
Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kết quả sau 12 tháng can thiệp nội mạch nong bóng phủ thuốc Paclitaxel trong điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính tại Bệnh viện Thống Nhất.
Thiết kế nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca.
Kết quả: từ 06/2022 đến 06/2024 có 122 bệnh nhân được điều trị tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính bằng phương pháp can thiệp nội mạch bằng bóng phủ thuốc tại bệnh viện Thống Nhất. Tỷ lệ cải thiện triệu chứng lâm sàng chu phẫu lên đến 93.4%. Sau can thiệp, 54.1% bệnh nhân hoàn toàn hết triệu chứng, 4.1% giảm còn đau cách hồi nhẹ, và 1.6% giảm còn đau trung bình. Không còn trường hợp nào thuộc phân độ Rutherford 3 hoặc 4 ngay sau thủ thuật. Về huyết động, chỉ số ABI trung bình tăng từ 0.58 lên 0.98 sau can thiệp. Đồng thời, 58.5% trường hợp ghi nhận dòng chảy ba pha sau can thiệp. Theo dõi đến 12 tháng, hiệu quả điều trị vẫn được duy trì ở mức cao. Tỷ lệ tái thông nguyên phát tại 12 tháng đạt 74.2% và tỷ lệ bảo tồn chi đạt 91.8%.
Kết luận: chiến lược "can thiệp nội mạch ưu tiên bằng bóng phủ thuốc” là hợp lý và khả thi trên nhóm bệnh nhân tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính. giúp duy trì kết quả lâu dài, đồng thời hạn chế nhu cầu can thiệp bổ sung so với các phương thức khác.
Từ khóa
Tắc hẹp động mạch đùi khoeo mạn tính, can thiệp nội mạch nong bóng phủ thuốc
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Norgren L., Hiatt W. R., Dormandy J. A., Nehler M. R., Harris K. A., Fowkes F. G. Inter-Society Consensus for the Management of Peripheral Arterial Disease (TASC II). J Vasc Surg. 2007;45 Suppl S:S5-67. Epub 2007/01/16. doi: 10.1016/j.jvs.2006.12.037. PubMed PMID: 17223489.
3. Tepe G., Laird J., Schneider P., et al. Drug-coated balloon versus standard percutaneous transluminal angioplasty for the treatment of superficial femoral and popliteal peripheral artery disease: 12-month results from the IN.PACT SFA randomized trial. Circulation. 2015;131(5):495-502. Epub 2014/12/05. doi: 10.1161/circulationaha.114.011004. PubMed PMID: 25472980; PubMed Central PMCID: PMCPMC4323569.
4. Rosenfield K., Jaff M. R., White C. J., et al. Trial of a Paclitaxel-Coated Balloon for Femoropopliteal Artery Disease. N Engl J Med. 2015;373(2):145-53. Epub 2015/06/25. doi: 10.1056/NEJMoa1406235. PubMed PMID: 26106946.
5. Katsanos K., Spiliopoulos S., Kitrou P., Krokidis M., Karnabatidis D. Risk of Death Following Application of Paclitaxel-Coated Balloons and Stents in the Femoropopliteal Artery of the Leg: A Systematic Review and Meta-Analysis of Randomized Controlled Trials. J Am Heart Assoc. 2018;7(24):e011245. Epub 2018/12/19. doi: 10.1161/jaha.118.011245. PubMed PMID: 30561254; PubMed Central PMCID: PMCPMC6405619.
6. Schneider P. A., Laird J. R., Doros G., et al. Mortality Not Correlated With Paclitaxel Exposure: An Independent Patient-Level Meta-Analysis of a Drug-Coated Balloon. J Am Coll Cardiol. 2019;73(20):2550-63. Epub 2019/01/29. doi: 10.1016/j.jacc.2019.01.013. PubMed PMID: 30690141.