Kết quả ngắn hạn của can thiệp nong van động mạch phổi đơn thuần bằng bóng qua da ở trẻ em tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E

Trần Đắc Đại1, Nguyễn Thị Hương1, , Bùi Quang Huy, Đoàn Thị Hoài Thu, Đặng Thị Thắm, Phạm Quang Long, Trần Thị Kim Oanh, Phan Thị Hoa, Nguyễn Thị Yến
1 Bệnh viện E

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kết quả ngắn hạn sau nong van ĐMP bằng bóng qua da ngay sau can thiệp, theo dõi sau 3 ngày can thiệp và các biến cố ảnh hưởng đến kết quả nong van ĐMP bằng bóng qua da trên bệnh nhân hẹp van ĐMP đơn thuẩn dưới 18 tuổi tại Trung tâm tim mạch - Bệnh viện E.


Đặt vấn đề: Hẹp van động mạch phổi (ĐMP) là một trong những tổn thương tim bẩm sinh phổ biến, với tỉ lệ hiện mắc đứng hàng thứ tư và chiếm khoàng 13,8% tổng số các ca tim bẩm sinh. Mặc dù trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu quy mô về dịch tễ học của bệnh lý này, song tại Việt Nam, các dữ liệu thống kê chính thống về tỷ lệ mắc tim bẩm sinh nói chung và hẹp van ĐMP nói riêng trong cộng đồng vẫn còn là một khoảng trống cần được làm rõ. Về mặt bệnh học, hẹp van ĐMP được ghi nhận lần đầu trong y văn bởi John Baptist Morgagno vào năm 1761. Một bước ngoặt quan trọng trong can thiệp lâm sàng diễn ra vào năm 1982, khi Kan và các cộng sự thực hiện thành công ca nong van ĐMP bằng bóng qua da đầu tiên tại bệnh viện Johns Hopkins (Hoa Kỳ). Kể từ thời điểm đó, nong van ĐMP bằng bóng qua da đã xác lập vị thế là giải pháp can thiệp ưu tiên đối với các trường hợp hẹp van ĐMP đơn thuần. Hiện nay, kỹ thuật này đã trở thành tiêu chuẩn điều trị quy chuẩn và được triển khai rộng rãi tại hầu hết các trung tâm tim mạch trên toàn cầu. So với phương pháp mở van ĐMP bằng phương pháp phẫu thuật, nong van ĐMP bằng bóng qua da giúp giảm thiểu biến chứng khi thực hiện phẫu thuật xâm lấn, giảm thiểu thởi gian và chi phí mà vẫn đạt được kết quả tối ưu trong điều trị bệnh. Từ năm 2016 đến năm 2024, trải qua 8 năm tiến hành can thiệp nong van ĐMP bằng bóng qua da tại Trung tâm tim mạch -  Bệnh viện E, chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả can thiệp thành công và thất bại, tỉ lệ biến chứng gặp phải ảnh hưởng đến kết quả can thiệp.


Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, mô tả. Từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 6 nắm 2024, có 59 bệnh nhân dưới 18 tuổi được chẩn đoán Hẹp van ĐMP đơn thuần được can thiệp nong van bằng bóng qua da.


Kết quả: Độ tuổi trung bình là 2,73  2,89 tuổi, hẹp van ĐMP nhẹ chiếm 15,3%, hẹp van ĐMP trung bình chiếm 49,2% và hẹp van ĐMP nặng chiếm 35,5% trên siêu âm doppler tim. Sau nong van ĐMP kết quả thành công không còn hẹp van là 22%, 76,3% hẹp nhẹ và 1,7% hẹp trung bình. Có 30 ca xuất hiện biến chứng trong đó: 1 bệnh nhân đứt dây chằng van ba lá (1,7%), 9 bệnh nhân (15,3%) tụ máu tại vị trí chọc mạch, 20 bệnh nhân xuất hiện rối loạn nhịp trong can thiệp và rối loạn nhịp chậm cấp cứu xảy ra trên 2 bệnh nhân (3,4%).


Kết luận:Can thiệp nong van động mạch phổi bằng bóng qua da là thủ thuật có tính an toàn cao và tỷ lệ thành công tối ưu. Phương pháp này cần được triển khai rộng rãi nhằm giảm thiểu các nguy cơ từ phẫu thuật mở cho bệnh nhân.

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

[1] L. H. Quang, “Nghiên cứu kết quả nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ em dưới 2 tuổi hẹp van động mạch phổi đơn thuần,” Đại học Y Hà Nội ( in Vietnamese), 2016.
[2] L. R. (. a. A. Lawrence AL, “Pulmonary stenosis,” Heart Disease In Infants, Children, And Adolescents, tập 2, pp. 820-844, 2001.
[3] R. Brock, “Pulmonary valvulotomy for the relief of congenital pulomary stenosis report of three cases,” Bristish Medical Journal, pp. 1121-1126, 1948.
[4] Kan JS, White RỊ, Jitchell SE, Gardnẻ TJ, “Percutaneuos balloon valvuloplasty: A new method for treating congenital pulmonary valve stenosis,” N Engl J Med, pp. 307-540, 1982.
[5] Merino-Ingelmo, R., Santos-de Soto, J., Coserria-Sánchez, F., Descalzo-Señoran, A., & Valverde-Pérez,, “Long-term results of percutaneous balloon valvuloplasty in pulmonary valve stenosis in the pediatric population.,” Revista Española de Cardiología (English Edition), tập 67, số 5, pp. 374-379, 2014.
[6] Baumgartner, H., De Backer, J., Babu-Narayan, S. V., Budts, W., Chessa, M., Diller, G. P., ... & Zeppenfeld, K, “2020 ESC Guidelines for the management of adult congenital heart disease: The Task Force for the management of adult congenital heart disease of the European Society of Cardiology (ESC). Endorsed by: Association for European Paediatric and Congenital Card,” European heart journal, tập 42, số 6, pp. 563-645, 2021.
[7] Grundy, S. M., Stone, N. J., Bailey, A. L., Beam, C., Birtcher, K. K., Blumenthal, R. S., ... & Yeboah, J, “2018 AHA/ACC/AACVPR/AAPA/ABC/ACPM/ADA/AGS/APhA/ASPC/NLA/PCNA guideline on the management of blood cholesterol: a report of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Clinical Practice Guidelines,” Journal of the American College of Cardiology, tập 73, số 24, pp. e285-e350, 2019.

[8] Louisa KH Poon, Samuel Menahem, “Pulmonary regurgitation after percutaneous balloon valvoplasty for isolated pulmonary valvar stenosis in childhood,” Cardiol Young, tập 13, pp. 444-450, 2003.
[9] Rao.P.S, “Indications for balloon pulmonary valvuloplasty,” American heart journal, tập 6 pt1, số 116, pp. 1661-1662, 1988.
[10] Lee ML, Peng JW, Tu GJ, et al, “Major determinants and Long- Term outcomes of successful balloon dilatation for the pediatric patients with isolated native valvular pulmonary stenosis: A 10-year institutional experience,” Yonsei Med J, tập 49, số 3, pp. 416-421, 2008.
[11] Hatem DM, Castro I, Haertel JC, Rossi RI, Zielinsky P, Leboute FC., ... & Gottschall CA,, “Short- and long- term results of percutaneous balloon valvuloplasty in pulmonary valve stenosis,” Arquivos Brasileiros de Cardiologia, tập 82, số 3, pp. 221-227, 2004.
[12] N. L. Hiếu, Lâm sàng tim bẩm sinh, Hà Nội ( in Vietnamese): Đại học Quốc gia Hà Nội, 2021.