Đánh giá kết quả trung hạn can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng dưới thận qua hình ảnh cắt lớp vi tính
Nội dung chính của bài viết
Tóm tắt
Tóm tắt: Đặt vấn đề: Trong những năm gần đây, can thiệp nội mạch đã trở thành một phương thức điều trị phổ biến trong bệnh lý phình động mạch chủ bụng dưới thận, đặc biệt ở nhóm bệnh nhân lớn tuổi hoặc có nhiều bệnh lý phối hợp. So với phẫu thuật hở truyền thống, phương pháp này giúp giảm mức độ xâm lấn và rút ngắn thời gian hồi phục sau can thiệp.
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu chính là đánh giá kết quả về trung hạn của kỹ thuật can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng dưới thận. Mục tiêu phụ của nghiên cứu là phân tích mối liên quan giữa đặc điểm giải phẫu cổ gần túi phình với kết quả điều trị.
Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả với đối tượng là các bệnh nhân được chẩn đoán phình động mạch chủ bụng dưới thận, có hoặc không có kèm phình động mạch chậu chung, được điều trị bằng can thiệp đặt ống ghép nội mạch tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2017 đến tháng 12/2024.
Kết quả: Có tất cả 119 bệnh nhân (79,8% nam giới) trung bình 71,6 ± 7,2 tuổi. Trong đó có 68 ca thuộc nhóm cổ thuận lợi và 51 ca thuộc nhóm cổ không thuận lợi. Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là đau bụng (67,2%). Bệnh lý phối hợp phổ biến nhất là tăng huyết áp (95%). Đường kính trung bình của khối phình là 63 ± 12,5 mm với phình dạng thoi chiếm đa số (95,8%). Có 37,8% bệnh nhân kèm theo phình động mạch chậu chung. Tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật đạt 93,3%. Rò nội mạch lúc can thiệp gặp ở 21,8% với rò loại II chiếm đa số (15,1%). Tỷ lệ rò nội mạch muộn là 10,9% với rò nội mạch loại I, loại II và loại III lần lượt chiếm 5,9%, 4,2% và 0,8%. Di lệch ống ghép gặp ở 0,8%, tắc ống ghép gặp ở 1,7% và nhiễm trùng ống ghép gặp ở 0,8% số bệnh nhân. Có 5% bệnh nhân tăng kích thước túi phình khi theo dõi. Tỷ lệ can thiệp lại là 1,7%. Bệnh nhân nhóm cổ không thuận lợi lớn tuổi hơn nhóm cổ thuận lợi (73,2 so với 70,4 tuổi, p= 0,03). Tỷ lệ nữ giới ở nhóm cổ không thuân lợi cao hơn (35,3% so với 8,8%, p< 0,001). Không có sự khác biệt về tỷ lệ rò nội mạch lúc can thiệp và rò nội mạch muộn giữa 2 nhóm.
Kết luận: Can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị PĐMCB là kỹ thuật an toàn, hiệu quả tốt với tỷ lệ thành công về mặt kỹ thuật tương đối cao. Kết quả về trung hạn tốt.
Từ khóa
Can thiệp đặt ống ghép nội điều trị phình động mạch chủ bụng, kết quả trung hạn, chụp cắt lớp vi tính
Chi tiết bài viết
Tài liệu tham khảo
2. Bùi, M.T., D.H.S. Phùng, and H.Ư. Nguyễn, Kết quả phẫu thuật, can thiệp nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng dưới thận có kế hoạch tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức giai đoạn 2018-2020. Tạp chí Y học Việt Nam, 2023. 523(1): p. 8–12.
3. Phạm, M.Á. and Q.T. Trần, Can thiệp đặt ống ghép nội mạch điều trị phình động mạch chủ bụng tại Khoa Phẫu thuật Mạch máu, bệnh viện Chợ Rẫy. Tạp chí Y Dược học Quân sự, 2014(2-TV(25)): p. 157–164.
4. Trần, T.V., P.L. Lê, and T.P. Lê, Kết quả điều trị phình động mạch chủ bằng can thiệp nội mạch tại khoa lồng ngực mạch máu – bệnh viện đại học Y dược TPHCM. Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam, 2020. 21(15): p. 91–95.
5. Lei, J., H. Pu, and Z. Wu, Local versus general anesthesia for endovascular aneurysm repair in ruptured abdominal aortic aneurysm: A systematic review and meta-analysis. Catheterization and Cardiovascular Interventions, 2022. 100(4): p. 679–686.
6. Strajina, V., G. Oderich, and J. Fatima, Endovascular aortic aneurysm repair in patients with narrow aortas using bifurcated stent grafts is safe and effective. Journal of Vascular Surgery, 2015. 62(5): p. 1140–1147.
7. Li, C., L. de Guerre, and K. Dansey, The impact of completion and follow-up endoleaks on survival, reintervention, and rupture. Journal of Vascular Surgery, 2023. 77(6): p. 1676–1684.
8. Corriere, M., I. Feurer, and S. Becker, Endoleak following endovascular abdominal aortic aneurysm repair: implications for duration of screening. Annals of Surgery, 2004. 239(6): p. 800–807.
9. Lee, B., C. Park, and H. Kim, Risk factors for iliac limb migration after endovascular infrarenal aortic repair. Scientific Reports, 2025. 15(1): p. 7555.
10. Faure, E., J. Becquemin, and F. Cochennec, Predictive factors for limb occlusions after endovascular aneurysm repair. Journal of Vascular Surgery, 2015. 61(5): p. 1138–1145.
11. Deery, S., E. Ergul, and M. Schermerhorn, Aneurysm sac expansion is independently associated with late mortality in patients treated with endovascular aneurysm repair. Journal of Vascular Surgery, 2018. 67(1): p. 157–164.
12. Argyriou, C., G. Georgiadis, and M. Lazarides, Endograft Infection After Endovascular Abdominal Aortic Aneurysm Repair: A Systematic Review and Meta-analysis. Journal of Endovascular Therapy, 2017. 24(5): p. 688–697.
Các bài báo tương tự
- Phan Thảo Nguyên, Nguyễn Thế Huy, Lý Đức Ngọc, Nguyễn Công Hựu, Kết quả sớm của thay van động mạch chủ qua da bằng van tự bung hydra thv trong các ca bệnh có giải phẫu khó: báo cáo loạt 3 ca , Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam: Tập 54
- Phan Thảo Nguyên, Nguyễn Thế Huy, Đỗ Lê Anh, Nguyễn Công Hựu, Thành công của kỹ thuật valve-in-valve tavi sử dụng van hydra 22 mm trong điều trị thoái hóa nặng van động mạch chủ sinh học kích thước nhỏ: báo cáo một trường hợp lâm sàng , Tạp chí Phẫu thuật Tim mạch và Lồng ngực Việt Nam: Tập 54
Ông/Bà cũng có thể bắt đầu một tìm kiếm tương tự nâng cao cho bài báo này.